Mang ‘Tinh Thần Nguyễn Thái Học’ Đến Việt Nam

Hoàng Xuân Ba

Từ những chương trình thiện nguyện

 Th� sinh nh�n học bổng NTH 2007
Thí sinh nhận học bổng NTH 2007

Thiên Ý, một sinh viên trường đại học luật Sài Gòn chia sẻ niềm vui khi nhận được học bổng trị giá 500 USD từ quỹ học bổng Nguyễn Thái Học, do Nguyễn Thái Học Foundation (NTHF) bảo trợ: “Em rất tự hào và hạnh phúc khi nhận được học bổng có giá trị và ý nghĩa mang tên người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học”. Với số tiền trị giá 8 triệu đồng Việt Nam, một số tiền tương đương với 3 tháng lương trung bình của một công chức nhà nước, Ý đã có thể dùng nó để trang trải học phí, phụ giúp gia đình và đóng góp vào những sinh hoạt từ thiện mà Ý đang tham gia.

Ngoài việc trao học bổng Nguyễn Thái Học, trung thu 2006, với sự hỗ trợ của NTHF, các bạn trẻ ở Sài Gòn đã tổ chức một chuyến đi thăm và vui trung thu các trẻ em bị bệnh AIDS ở trung tâm Mai Hòa, Củ Chi. Các bạn trẻ đã mang theo lồng đèn, bánh trung thu, truyện tranh và nhất là mang theo tấm lòng của những người Việt gởi gắm từ bên kia đại dương. Nhìn hình ảnh các em nhỏ bị bệnh AIDS chơi đùa thật hồn nhiên, ngây thơ tôi chợt buồn cho thân phận của kiếp người. Hy vọng rằng những món quà của những ân nhân ở phương xa, những lời chia sẻ, an ủi của các bạn trẻ sẽ giúp các em vơi đi nỗi buồn.

Em rất tự hào và hạnh phúc khi nhận được học bổng có giá trị và ý nghĩa mang tên người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học
Thiên Ý, sinh viên luật khoa Sài Gòn

Hà Tĩnh vẫn còn là một tỉnh nghèo ở Việt Nam, nhất là ở vùng nông thôn hẻo lánh, đời sống bà con rất khổ cực. Với tinh thần giúp đỡ mọi người dân Việt Nam, nhất là những người nghèo khó ở nông thôn, NTHF đã hỗ trợ cho giáo xứ Hòa Thắng, tỉnh Hà Tỉnh trong việc mua heo con để tặng bà con nghèo không phân biệt lương giáo, làm những lu chứa nước mưa để bà con dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Tinh thần thiện nguyện “Cho cần câu hơn là cho con cá” đã phát huy tác dụng. Linh mục Nguyễn Ngọc Nga, chánh xứ Hòa Thắng chia sẻ: “Việc nuôi heo giống đang có những tiến triển rất đáng mừng và gặt hái nhiều kết quả”. Sự đóng góp quý báu của các anh chị trong NTHF đã đơm hoa kết quả”.

Đến “tinh thần Nguyễn Thái Học”

Các chương trình thiện trên là một trong những hoạt động thiện nguyện mà NTHF đã đứng ra bảo trợ. Anh Võ Duy Anh, phó ban điều hành NTHF giải thích nguyên nhân và hoàn cảnh đưa đến sự hình thành của học bổng mang tên Nguyễn Thái Học: “Đầu tiên là một nhóm bạn bè tương đối đã thành đạt và tham gia rất nhiều công tác xã hội tại nước ngoài hợp lại với nhau để suy nghĩ làm một công việc nào đó có ý nghĩa cho đất nước và thế hệ trẻ. Trong lúc họp bàn chọn tên cho học bổng thì có người đề xuất người sinh viên anh hùng Nguyễn Thái Học là một biểu tượng của lòng yêu nước”.

Được biết NTHF là một tập hợp những anh chị em đã thành danh trên đất Mỹ nhưng vẫn canh cánh trong lòng một tâm nguyện phát triển đất nước Việt Nam tươi đẹp hơn. Anh Việt Linh, một thành viên trong NTHF cho biết ở bên Mỹ có điều kiện làm các công việc thiện nguyện dễ dàng hơn các nước khác vì ba lý do chính. Một, đa số học sinh sinh viên ngay từ lúc còn đi học đã được khuyến khích tham gia vào các sinh hoạt cộng đồng, các công việc thiện nguyện; hai, điều kiện tài chính cho phép, một phần là nước Mỹ là nước phát triển, hai là vì giá trị đồng đô-la cao hơn tiền tệ ở các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam; ba, khi ra khỏi nước Mỹ người dân Mỹ phát hiện ra là còn quá nhiều người nghèo khổ và cần được sự giúp đỡ ở các vùng đất khác trên địa cầu”.

Thế nhưng lý do quan trọng nhất trong việc ra đời tổ chức thiện nguyện mang tên Nguyễn Thái Học có lẽ là tấm lòng hướng về quê hương đất nước với mong muốn đất nước Việt Nam thoát khỏi tình trạng lạc hậu như hiện nay. Trong thư gởi đến các thí sinh được trao học bổng Nguyễn Thái Học niên khóa 2005-2006, anh Võ Duy Anh, phó ban điều hành NTHF đã gởi gắm tâm sự: “Nguyễn Thái Học đã để lại lời mà chúng ta còn nhớ là: “Không thành công, cũng thành nhân”. Đúng vậy, gương tranh đấu của Nguyễn Thái Học đã gieo được cái mầm trong lòng dân tộc và từ đó, các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp đã liên tiếp nổi lên để đi đến giải phóng đất nước. Do đó, khi thành lập học bổng, chúng tôi chỉ muốn gieo cái hạt nhân tốt trong lòng các bạn và tiếp tục theo dõi, chăm sóc các bạn cho đến khi nào các bạn cứng cáp và có thể tự vươn lên bằng chính khả năng của các bạn, thực hiện các ước mơ và cùng nhau đưa đất nước lên những đỉnh cao thật sự”.

Hơn thế nữa đó làm thế nào để học sinh, sinh viên VN thấm nhuần được tinh thần của một lãnh tụ yêu nước Nguyễn Thái Học khi còn là sinh viên đã sớm chịu ảnh hưởng bởi Nguyên Tắc Tam Dân của nền Dân chủ Hoa Kỳ và của thể chế Cộng Hòa ở Pháp. Có được tinh thần đó, các sinh viên VN sẽ có trách nhiệm thật sự đối với tương lai và vận mạng của đất nước.

Khó khăn và dự định trong tương lai

NTHF sẽ mở rộng các hoạt động tập trung vào ba lĩnh vực chính là xã hội, văn hóa và giáo dục
Việt Linh, thành viên ban điều hành NTHF

Anh Việt Linh, cũng cho biết thêm: “Trong năm 2007, ban quản trị NTHF tiếp tục thực hiện các công việc như tập trung vào chương trình trợ cấp học bổng cho học sinh và sinh viên gốc Việt ở trong và ngoài nước VN. Nếu điều kiện tài chính cho phép thì sẽ mở rộng các hoạt động tập trung vào ba lĩnh vực chính là xã hội, văn hóa và giáo dục”. Tất cả những hoạt động đó chắc chắn sẽ góp phần nào vào việc xây dựng và phát triển thế hệ trẻ VN, theo đúng như tinh thần và trách nhiệm mà người sinh viên yêu nước Nguyễn Thái Học từng mong muốn. Tuy vậy hoạt động của NTHF cũng gặp không ít khó khăn. Ngân sách và tài chánh là một vấn đề mà các anh chị trong NTHF luôn phải bận tâm suy nghĩ vì đây là “năng lượng” của mọi sinh hoạt. Ngoài ra, những tin tức từ trong nước về giáo dục và xã hội cũng là những yếu tố cần thiết để việc lên kế hoạch cho các dự án liên quan đến việc cấp học bổng cho học sinh sinh viên trong nước cũng như các dự án thiện nguyện khác được thành công. Cuối cùng vẫn là sự đóng góp của các thiện nguyện viên ở trong nước để giúp ban quản trị trực tiếp thực hiện các công tác thiện nguyện ở VN cũng như giúp ban quản trị hiểu rõ hơn cần phải làm gì để có thể phổ biến rộng rãi hơn về NTHF.

Mới đây, một buổi gây quỹ do các anh chị trong NTHF tổ chức thành công, được rất nhiều bà con ở Mỹ hưởng ứng. Đó là một tin vui không những cho những người đang tham gia NTHF mà còn là tin vui của những bạn học sinh, sinh viên hiếu học, những bà con Việt Nam nghèo khó đang cần sự trợ giúp từ NTHF. Một tin vui khác cho các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam đó là số lượng học bổng được tăng thêm, con đường đến trường của các bạn sẽ bớt gian nan hơn.

Trong lá thư gởi cho NTHF, linh mục Nga bày tỏ lòng biết ơn chân thành: “Cảm ơn quý hội đã quan tâm thương đến giáo xứ chúng tôi trong quá khứ và hiện tại vẫn có thiện chí nhân ái từ thiện giúp đỡ giáo xứ trong cảnh đơn nghèo. Cầu Chúa và Mẹ La Vang ban nhiều sức khỏe, may lành, phước lộc cho quý hội trong cuộc sống xa quê hương Việt Nam yêu dấu”. Đó cũng chính là lời biết ơn của những những người đã nhận được sự trợ giúp ở Việt Nam muốn gởi đến NTHF.

Cơ chế cạnh tranh

Cơ chế cạnh tranh trong kinh tế và chính trị giúp ích gì cho sự phát triển của đất nước trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập WTO.

The image “http://www.fetp.edu.vn/global/fileinclude/images/vnn0055.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.Trong kinh tế

Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường, hoạt động chủ yếu dựa vào những quy luật của thị trường trong đó kinh tế tư nhân chiếm một tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Trong nền kinh tế đó, nhà nước chỉ giữ vai trò điều tiết bằng các chính sách kinh tế vĩ mô chứ không phải can thiệp bằng những mệnh lệnh hành chính.

Tư nhân hóa, ở Việt Nam còn gọi là cổ phần hóa, là một giai đoạn quan trọng trong quá trình này, đó cũng là giai đoạn mà Liên Xô cũ và các nước Đông Âu đã trải qua trong quá trình chuyển đổi từ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa sang hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Đó cũng là giai đoạn mà Việt Nam bắt buộc phải trải qua để hội nhập hoàn toàn vào sân chơi chung của kinh tế thế giới.

Bản chất của tư nhân hóa là việc chuyển đổi sở hữu công sang sở hữu tư, bán tài sản nhà nước cho tư nhân. Tư nhân hóa đúng cách sẽ giúp nhà nước thu được tiền để bổ sung vào ngân sách đang trong tình trạng thiếu hụt, các công ty nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần hóa và quan trọng nhất là làm cho nền kinh tế trở nên cạnh tranh hơn, không còn xảy ra tình trạng độc quyền như trước.

Với cơ chế cạnh tranh, các công ty được cổ phần hóa sẽ hoạt động tốt và hiệu quả hơn, đóng góp rất nhiều vào quá trình phát triển kinh tế.

Liệu pháp tư nhân hóa mà Việt Nam đang sử dụng mặc dù theo các chuyên gia kinh tế diễn ra khá chậm chạp nhưng vẫn chứng tỏ rằng chính phủ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản khẳng định đi theo con đường phát triển nền kinh tế thị trường.

Là một thanh niên được giáo dục và trưởng thành tại Việt Nam nhưng tôi mong muốn được góp phần vào sự phát triển của đất nước thông qua những cuộc tranh luận nghiêm túc và bổ ích trên các phương tiện thông tin đại chúng với các bạn trẻ Việt Nam khắp nơi trên thế giới.
Hoàng Xuân Ba

Như vậy, cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà các văn kiện Đảng hay dùng nhằm chỉ đến yếu tố chính trị đó là Đảng Cộng sản vẫn giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, nói cách khác đó là Đảng Cộng sản không muốn chia sẻ quyền lực cho các đảng phái khác hơn là nói về yếu tố kinh tế trong đó thành phần kinh tế nhà nước chiếm một tỉ trọng áp đảo.

“Định hướng xã hội chủ nghĩa” có tốt cho sự phát triển của đất nước hay không? Đó là một vấn đề cần được thảo luận một cách nghiêm túc.

Ở đây người viết chỉ muốn đưa ra một ví dụ rất nhỏ trong kinh tế đó là dịch vụ di động. Khi vừa mới ra đời, dịch vụ di động của Việt Nam chỉ do hai công ty Mobifone và Vinafone, cùng thuộc một đơn vị chủ quản là Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam quản lý. Do đó hai công ty này thiếu tính cạnh tranh từ đó dẫn đến một dạng độc quyền trong kinh doanh.

Hậu quả là những người sử dụng dịch vụ di động thời kỳ đầu luôn phải chịu thiệt thòi khi gọi một giây nhưng phải tính tiền tới một phút, cước phí hòa mạng rất cao, chất lượng dịch vụ thấp, thường xuyên bị nghẽn mạng…

Thế nhưng kể từ khi xuất hiện một công ty tư nhân mang tính cạnh tranh cao là S-fone đe dọa sự thống trị trong lĩnh vực dịch vụ di động của hai công ty trên thì tình hình trở nên khác hẳn. Những chương trình quảng cáo, khuyến mãi, phục vụ khách hàng chu đáo liên tục được tung ra nhằm mục đích lôi kéo và giữ chân khách hàng. Và cho đến nay, dịch vụ di động đã trở nên hoàn thiện hơn, khách hàng ít phàn nàn hơn trước rất nhiều.

Điều đó cho thấy trong nền kinh tế, sự cạnh tranh luôn là một động lực giúp cho các công ty luôn tự mình thay đổi để tồn tại và phát triển. Thiếu đi sự cạnh tranh, động lực phát triển sẽ biến mất và các công ty sẽ trở nên sống lây lất, vất vưởng.

Cạnh tranh là một yếu tố cần thiết để phát triển một nền kinh tế thị trường. Vậy yếu tố cạnh tranh có vai trò gì trong lĩnh vực chính trị?

Trong chính trị

Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng rằng Nhật Bản là một quốc gia do một Đảng LPD lãnh đạo một cách thống nhất và toàn diện, điều gì sẽ xảy ra? Chắc chắn là Nhật Bản sẽ không xảy ra những bất ổn về chính trị như trong thời gian vừa qua.

Những vụ bê bối trong vấn đề làm ăn của các bộ trưởng Nông nghiệp sẽ được giữ kín, nếu có bị báo chí phanh phui thì với sự nắm giữ quyền lực của mình Đảng LPD sẽ tiếp tục nắm giữ vai trò lãnh đạo và chủ tịch Đảng LPD sẽ vẫn là thủ tướng Nhật Bản bất chấp ông không có khả năng lựa chọn một nội các tốt.

Bản thân tôi nghĩ rằng đa đảng thì tốt hơn một đảng bởi vì nó tạo ra một cơ chế cạnh tranh trong chính trị.
Hoàng Xuân Ba

Bù lại Nhật Bản không thể có được một cơ chế “tự điều chỉnh” trong hoạt động chính trị như chúng ta đã thấy trong thực tế, một thủ tướng mới của Nhật Bản đã lên nắm quyền thay thế cho vị thủ tướng không đạt được lòng tin của dân chúng.

Khi quyền lực nhà nước được tập trung vào trong tay một đảng phái duy nhất cạnh tranh được thay thế bằng độc quyền. Như vậy, Đảng LPD sẽ mất đi động lực để tự thay đổi mình một cách tốt hơn để có thể phát triển. Các vụ tham nhũng, bê bối về tài chính sẽ được các Đảng viên che đậy, người dân mất niềm tin vào chính phủ. Không có được các Đảng khác đóng vai trò phản biện các chính sách kinh tế, những chính sách kinh tế sai lầm sẽ được áp dụng, kinh tế Nhật Bản sẽ nhanh chóng xuống dốc.

Với tình trạng như thế tôi nghĩ rằng sự bất ổn kinh khủng về chính trị, kinh tế, xã hội… của Nhật Bản sẽ xảy ra với một tốc độ nhanh hơn chúng ta tưởng tượng.

Với một tưởng tượng nhỏ trên, chúng ta có thể nhìn ra được một xã hội từ đa đảng chuyển sang một đảng sẽ như thế nào?

Bản thân tôi nghĩ rằng đa đảng thì tốt hơn một đảng bởi vì nó tạo ra một cơ chế cạnh tranh trong chính trị. Những khiếm khuyết trong các chính sách vĩ mô của đảng này sẽ được đảng kia phản biện, từ đó buộc các nhà lãnh đạo đất nước phải sửa đổi đường lối của họ. Hơn thế nữa cơ chế cạnh tranh trong chính trị sẽ giúp người dân chọn lựa một cách tự do những người đại diện cho mình trong hệ thống chính trị, các vị đại biểu quốc hội buộc phải quan tâm hơn đến những nguyện vọng của người dân hơn là nguyện vọng của đảng.

Lord Acton, một sử gia người Anh sống vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã từng nói: “Quyền lực có xu hướng tha hóa; quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối”, việc sử dụng cơ chế cạnh tranh trong chính trị sẽ giúp hạn chế xu hướng lạm quyền và qua đó hạn chế việc tha hóa của các quan chức nhà nước.

Nói về Việt Nam, Đảng Cộng sản thừa nhận rằng tham nhũng đang là quốc nạn, tôi nghĩ rằng điều đó hoàn toàn chính xác. Nhưng nếu đi sâu hơn thì chính cơ chế tập trung quyền lực vào trong tay một số người đã dẫn đến tình trạng tha hóa.

Tại sao các quan chức nhà nước dám tham nhũng? Đơn giản bởi vì họ nghĩ rằng với cơ chế hiện nay họ có thể ém nhẹm tất cả mọi thông tin, nếu có bị phanh phui thì chính Đảng cũng sẽ bảo vệ cho họ. Nếu làm lớn chuyện hơn thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, khiến cho người dân không còn tin vào Đảng.

Từ cấp địa phương cho đến trung ương, chuyện tham nhũng từ nhỏ đến lớn ở Việt Nam xảy ra hàng ngày mà cho đến nay dù đã thành lập ban chỉ đạo chống tham nhũng cấp chính phủ nhưng vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề bởi vì thiếu tính cạnh tranh giữa những người đang nắm giữ quyền lực với nhau.

Có thể lấy rất nhiều ví dụ khác nhau của các nước trên thế giới để chứng minh rằng rất nhiều quốc gia có thể chế chính trị đa đảng nhưng không dân chủ.
Hoàng Xuân Ba

Việt Nam có nên đa đảng?

Với những phân tích trên tôi nghĩ rằng nên bởi vì nó sẽ giúp cho Việt Nam có một nền chính trị tốt hơn nhưng không phải là trong tương lai gần bởi vì tôi chưa thấy được một lộ trình cụ thể và khả thi để hiện thực hóa điều đó. Và tôi cũng nghĩ rằng đa đảng chỉ là một yếu tố cần nhưng chưa đủ để xây dựng một nền dân chủ thật sự vững chắc.

Có thể lấy rất nhiều ví dụ khác nhau của các nước trên thế giới để chứng minh rằng rất nhiều quốc gia có thể chế chính trị đa đảng nhưng không dân chủ.

Như vậy vấn đề mà tôi nghĩ những người đấu tranh dân chủ như bạn Nguyễn Tiến Trung cần phải làm sáng tỏ đó là dân chủ là gì và và không là gì? Để đạt được mục tiêu dân chủ thì cần phải vận động các bạn thanh niên để họ hiểu rõ dân chủ từ đó ủng hộ tập hợp thanh niên dân chủ hơn là những bài viết chỉ trích và phê phán thể chế chính trị hiện tại của Việt Nam nhưng không đưa ra những giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề.

Không có được sự ủng hộ của đông đảo các bạn trẻ ở VN thì dù cho bạn viết hàng ngàn lá thư kiến nghị gởi Đảng Cộng sản thì họ cũng sẽ bỏ ngoài tai bởi vì không có sức ép từ bên dưới thì bên trên sẽ không bao giờ muốn chia sẻ quyền lực.

Còn với bạn Lê Hoàn nếu bạn vẫn cho rằng một đảng lãnh đạo sẽ tốt cho Việt Nam ở cả hiện tại lẫn trong tương lai vài chục năm sau và nhất là hạn chế được nạn tham nhũng thì tôi đề nghị bạn có thể chứng minh rõ hơn luận điểm của mình.

Trong tinh thần tôn trọng sự khác biệt, tôi, bạn và Nguyễn Tiến Trung sẽ trao đổi với nhau thật rõ ràng hơn mọi vấn đề.

Là một thanh niên được giáo dục và trưởng thành tại Việt Nam nhưng tôi mong muốn được góp phần vào sự phát triển của đất nước thông qua những cuộc tranh luận nghiêm túc và bổ ích trên các phương tiện thông tin đại chúng với các bạn trẻ Việt Nam khắp nơi trên thế giới.

Liệu “chó: thị trường” và “mèo: kế hoạch” có thể lai giống được với nhau hay không?

http://www.x-cafevn.org/forum/files/kornai04.gif

Hãy chứng minh bằng thực tế. Đó là điều rất cần thiết khi đánh giá về hệ thống tư bản chủ nghĩa hay hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những gì mà những nhà sáng lập ra bất kỳ chủ nghĩa nào hay những gì mà các nhà lãnh đạo đất nước mong muốn đều rất tốt đẹp. Tất cả các mơ ước trên căn bản đều tốt đẹp, chính từ những mơ ước ấy Marx đã hình dung về một cuộc cách mạng trong đó quyền lực của nhà tư bản sẽ bị lật đổ và “kẻ chiếm đoạt sẽ bị tước đoạt”.

Trong quá trình tích tụ tư bản đó, Marx cho rằng, đã nảy sinh sự bóc lột giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản càng bóc lột thì càng làm gia tăng giai cấp vô sản, giai cấp bị bóc lột. Với tư cách là một nhà phê bình cách mạng của chủ nghĩa tư bản, Marx luôn đánh giá rất cao khả năng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển lực lượng sản xuất, xóa bỏ sự lạc hậu của thời kỳ trung cổ, thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và mang lại cho nền sản xuất sự tổ chức tốt hơn vàVà cuối cùng, khi mâu thuẫn đạt đến đỉnh điểm thì sẽ làm nảy sinh một cuộc cách mạng vô sản. Một cuộc cách mạng mà giai cấp vô sản sẽ “giành được cả một thế giới cho riêng mình”.

Rõ ràng là trong suy nghĩ của Marx, sự “tiến lên” chủ nghĩa xã hội phải được bắt đầu từ các nước mà chủ nghĩa tư bản đã hoàn toàn phát triển. Ở đó, hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành một vật cản đối với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng cũng đã kịp chuẩn bị cho một hệ thống sản xuất có trình độ phát triển cao hơn nhiều so với bản thân nó thông qua việc cung cấp các điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Nhưng thực tế diễn ra như thế nào thì là chuyện hoàn toàn khác. Không có một quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa nào như Mĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Vì thế nếu đánh giá bất kỳ một hệ thống nào mà chỉ dựa trên những lời hứa hay mong ước của các chính trị gia, những nhà lãnh đạo thì đều trở nên phi thực tế. Chân lý được xác nhận là đúng đắn khi được thực tiễn xác nhận.

Tất cả những giáo trình về chính trị đã và đang được giảng dạy chính thức ở Việt Nam như chủ nghĩa Marx-Lenin, kinh tế chính trị XHCN,… thường trộn lẫn hiện thực với mơ ước, ví dụ như trộn lẫn nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo nguyên lý thị trường đang hiện diện với những mơ ước về một hệ thống xã hội chủ nghĩa hoạt động theo nguyên lý kế hoạch hóa được cho rằng có thể hoạt động hiệu quả và công bằng.

Chính vì lý do đó, các vấn đề về sự vận hành thật sự của nền kinh tế được người dạy, với một niềm tin tưởng tuyệt đối, trình bày một cách bóp méo và do đó được người học, với một sự thờ ơ chán nản, tiếp thu một cách máy móc. Chính vì thế nó, sự vận hành của nền kinh tế mà các giáo trình mô tả thường không đúng với thực tế đang diễn ra. Ví dụ như việc gì sẽ xảy ra nếu những mong đợi của Marx trở thành hiện thực, chủ nghĩa xã hội thành công ở những nước phát triển nhất.

Theo những gì mà các tài liệu của hệ tư tưởng chính thống trình bày thì đó là sẽ là “một xã hội có một nền sản xuất hiện đại, một lực lượng lao động tiên tiến, một xã hội giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện, một xã hội trong đó nguyên tắc phân phối cơ bản nhất là nguyên tắc phân phối theo lao động: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.

Thực tế lịch sử là, chưa có một quốc gia tiên tiến nào thật sự bước vào giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản và cũng không có một nước tư bản chủ nghĩa phát triển nào tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Chỉ có những nước có một nền kinh tế lạc hậu của một xã hội tiền tư bản như Liên Xô, hay những nước bị thực dân xâm chiếm, bị sự thống trị của chế độ phong kiến, nơi mà sự nghèo đói, sự bất công, sự áp bức tàn nhẫn, chiến tranh và cuối cùng là sự khủng hoảng sâu sắc trong xã hội như Việt Nam vào những năm 1945 mới tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản thâu tóm quyền lực trong một hoàn cảnh mà mâu thuẫn trong xã hội đã lên tới đỉnh cao, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện một cuộc cách mạng giành chính quyền.

Thực tế việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập hiện nay ở Việt Nam về chủ nghĩa xã hội cho thấy, những thành tựu cũng như sai lầm của chủ nghĩa xã hội được nhìn nhận theo những suy nghĩ chủ quan, nói một cách khác là theo những gì mình được tiếp thu một cách thụ động, chỉ được phép nghĩ là đúng khi được người khác bảo là đúng, loại bỏ tất cả những vấn đề không được phép đề cập, dù cho thực tế đang diễn ra sẽ dẫn đến việc sai lệch, thiên kiến trong việc đánh giá. Khuynh hướng đề cao những giá trị tích cực, bỏ qua những giá trị tiêu cực mặc dù rất phổ biến của chủ nghĩa xã hội đang là một khuynh hướng chung ở Việt Nam.

Việc đánh giá chế độ cộng sản là một chế độ chuyên chế toàn trị, mọi quyền lực của nhân dân đều tập trung vào tay Đảng Cộng sản, nhưng không nhìn nhận nỗ lực mang lại sự bình đẳng, công bằng xã hội như trợ cấp y tế, giáo dục cho mọi người của những người lãnh đạo Đảng, đó sẽ là một thiếu sót. Việc đánh giá Đảng Cộng sản nắm quyền lực duy nhất và tuyệt đối mang đến những hệ quả tốt như ý chí chính trị được thống nhất tuyệt đối từ trên xuống dưới, tạo ra một sự ổn định của xã hội, mặc dù có thể đó là một sự ổn định giả tạo, lẫn hệ quả xấu như không có tòa án độc lập để kiểm tra các luật, các pháp lệnh, hoặc hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt là của Đảng cầm quyền có vi phạm hay mâu thuẫn với hiến pháp hoặc văn bản pháp luật trước đó hay không. Tất cả đều cần được xem xét để có được một cách nhìn khách quan và trung thực.

Việc đánh giá về các hệ thống kinh tế – chính trị – xã hội phải thực hiện một cách toàn diện. Điều đó có nghĩa là cần đánh giá tất cả các mặt một cách khách quan và khoa học. Cần cho điểm tất cả các mặt, từ kinh tế cho đến văn hóa – xã hội, từ thể thao cho đến tôn giáo. Do vậy, để đánh giá về hệ thống xã hội chủ nghĩa một cách chính xác cần phải ghi nhận những mặt tích cực của nó như bình đẳng xã hội và phúc lợi cũng như những mặt chưa được như áp đặt hệ tư tưởng chính thống, xóa bỏ chế độ tư hữu. Hơn thế nữa, cần xem xét những hệ quả mà nó gây ra. Một suy nghĩ tốt nhưng mang lại kết quả xấu thì phải xem lại suy nghĩ đó có đúng hay không.

Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa, sau khi giành được chính quyền đã bắt đầu thực hiện những kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa mà các nhà tiên phong của chủ nghĩa này mong muốn. Thế nhưng mọi nỗ lực nhằm xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa hoạt động dựa trên nguyên lý kế hoạch hóa tập trung gặp thất bại. Các nước xã hội chủ nghĩa đã chuyển đổi sang một hệ thống mới, hệ thống xã hội chủ nghĩa thị trường.

Việt Nam cũng như Trung Quốc hiện nay đang là những nước phát triển theo mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đó là một mô hình kết hợp giữa hai cơ chế: cơ chế hoạt động của thị trường và cơ chế quản lý, kiểm soát tập trung. Các nhà lãnh đạo của hai nước trên và cả những nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu cũ, nghĩ rằng đó là một lối ra khá dễ chịu khi vẫn giữ nguyên những quan điểm chính trị của chủ nghĩa Marx đồng thời chối bỏ kinh tế học của Marx, bổ sung vào đó nguyên lý thị trường. Họ nghĩ rằng, việc áp dụng bổ sung cùng một lúc hai cơ chế sẽ bổ sung ưu điểm đồng thời khắc phục nhược điểm của nhau. Cơ chế kế hoạch và kiểm soát tập trung sẽ can thiệp khi thị trường cần sự điều chỉnh về các mặt có liên quan đến phúc lợi xã hội. Ngược lại thị trường giải phóng những người nắm quyền lực khỏi phải bận bịu với công việc điều phối thường nhật; ngoài ra nó còn có khả năng báo hiệu khi những nhà lập kế hoạch trung ương đưa ra những quyết định sai lầm.

Sự phát triển vượt bực về kinh tế đặc biệt trong các lĩnh vực do tư nhân quản lý trong những năm gần đây của Trung Quốc và Việt Nam là một minh chứng cho thấy sự hữu hiệu khi sử dụng cơ chế thị trường. Bên cạnh đó những vấn nạn như nạn hành dân của các cán bộ nhà nước, nạn tham nhũng tràn lan, sự bất bình đẳng trong xã hội… là do cơ chế quản lý kế hoạch tập trung gây ra. Hệ quả là trong việc sử dụng, mỗi cơ chế sẽ gây ra những phản ứng rất khác nhau, không thể đánh đồng chúng thành một. Đổ thừa việc tham nhũng tràn lan là do cơ chế thị trường gây ra sẽ làm cho việc chữa trị căn bệnh này không hiệu quả do sự chẩn đoán sai lầm. Một bác sĩ chữa được bệnh khi nhận biết được chính xác nguyên nhân gây ra căn bệnh đó.

Vấn đề cần đặt ra là: liệu có thể dung hòa cả hai cơ chế đầy những mâu thuẫn nội tại này hay không? Thực tế lịch sử cho thấy tất cả các nước cải cách, áp dụng cả hai cơ chế này đều gặp phải những trở ngại không thế vượt qua được. Và tất cả các nước đó, trừ Trung Quốc và Việt Nam, đều đã từ bỏ cơ chế quản lý tập trung chuyển hướng sang kinh tế thị trường.

Liệu Trung Quốc và Việt Nam sẽ áp dụng một lúc cả hai cơ chế này trong khoảng thời gian bao lâu nữa: 6, 7, 8 thập kỉ hay là hơn một thế kỉ? 60 năm là khá dài cho một đời người, nhưng đối với sự tồn tại của một chủ nghĩa thì còn rất ngắn, thực tế thì chủ nghĩa xã hội cổ điển đã chấm dứt ở Việt Nam từ năm 1986 với việc áp dụng những nguyên lý thị trường, và trên thế giới chỉ còn Cuba và Bắc Triều Tiên là sống trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển. Liệu có một lối thoát nào sáng sủa cho các nhà lãnh đạo của hai nước này khi mà cả hai yêu cầu: giữ nguyên hệ thống chính trị và tăng trưởng kinh tế đều tỏ ra cấp bách. Liệu “chó: thị trường” và “mèo: kế hoạch” có thể lai giống được với nhau hay không? Câu trả lời sẽ được thực tế chứng minh.

Hồ Chí Minh – Nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng và khách quan

http://news.vnu.edu.vn/ttsk/vietnamese/c1736/c2013/2007/03/n14983/1960_01_01_bacho3s_hienphap.jpghttp://news.vnu.edu.vn/ttsk/vietnamese/c1736/c2013/2007/03/n14983/1960_01_01_bacho3s_hienphap.jpg

1. Hồ Chí Minh là một anh hùng dân tộc, người có công lao kiệt xuất trong cuộc đấu tranh cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc, được nhân dân suy tôn và lịch sử dân tộc ghi nhận. Anh hùng dân tộc thường xuất hiện ở bước ngoặt lịch sử của dân tộc (thời đại), trở thành biểu tượng và niềm tự hào bất diệt của dân tộc.Ở Việt Nam, trong lịch sử bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam đã xuất hiện nhiều anh hùng dân tộc tiêu biểu: Trưng Trắc, Trưng Nhị, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh…Quan điểm trên được nhìn nhận một cách khách quan khi đánh giá về một nhân vật trong lịch sử Việt Nam. Hồ Chí Minh chính là người đã lãnh đạo miền Bắc Việt Nam trong việc dành lại độc lập cho dân tộc, ông cũng chính là người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông cũng chính là người lãnh đạo nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sau này có một vai trò quan trọng về mặt tinh thần trong cuộc nội chiến 1975, nhằm mục đích thống nhất hai miền Nam – Bắc.

2. Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Với những trước tác của ông để lại cho hậu thế, với những áng văn thơ mà ông đã làm, với những bài chính luận mà ông đã viết thì ông xứng đáng là một trong những danh nhân văn hóa của Việt Nam.

3. Hồ Chí Minh là một con người nên không thể tránh khỏi sự chi phối khách quan của thời đại mà ông sống và vì thế ông đã sai lầm khi chọn lựa một ý thức hệ cho dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên đánh giá một cách khách quan và công bằng thì việc chọn lựa ý thức hệ cộng sản không phải là sự chọn lựa chủ quan của ông mà là sự chọn lựa khách quan do hoàn cảnh lịch sử chi phối.

Các bác hãy nhớ lại thời điểm năm 1945, khi mà cuộc Cách Mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Rõ ràng trong bản tuyên ngôn ấy, ông muốn hướng Việt Nam tới một nền Dân chủ Cộng hòa, và ông đã bắt tay vào việc xây dựng mô hình chính thể theo đúng tinh thần đó.

Thế nhưng hoàn cảnh lịch sử không cho phép ông và dân tộc Việt Nam đi theo con đường đó. Thực dân Pháp nhảy vào xâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Lúc này Hồ Chí Minh cùng chính quyền mới thành lập có hai sự lựa chọn:

1. Chấp nhận để dân tộc Việt Nam dưới sự đô hộ của thực dân Pháp một lần nữa.

2. Kêu gọi toàn dân chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp.

Hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ buộc ông và chính phủ của mình phải chọn lựa con đường thứ hai. Và để giành được thắng lợi bằng con đường đấu tranh đó ông đã buộc phải liên kết với Liên Xô và Trung Quốc và đưa cả miền Bắc vào việc xây dựng một thể chế xã hội chủ nghĩa.

Nhìn nhận một cách công bằng và khách quan, tại thời điểm lúc bấy giờ không một người nào có thể nhận thức được rằng sự lựa chọn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sai lầm của lịch sử.

Chúng ta từ hiện tại nhìn lại quá khứ thì sẽ nhìn thấy rất rõ ai đúng ai sai. Nhưng nếu có mặt trong quá khứ thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ không thể nào biết được sự lựa chọn của mình trong tương lai là đúng hay sai. Ngay cả các trí thức trên thế giới cũng đã từng một thời đặt niềm tin vào hệ thống xã hội chủ nghĩa thì Hồ Chí Minh cùng với những cộng sự của ông cũng chỉ là những con người và nhận thức cũng chỉ có một giới hạn nhất định.

Họ bị bắt buộc chọn một con đường để đi và họ đã quyết tâm đi con đường đó cho đến cùng. Vận mệnh đau buồn của dân tộc VN khi trở thành một bãi chiến trường để hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đấu tranh với nhau bằng súng đạn. Đó là điều không thể tránh khỏi và chúng ta bắt buộc phải chấp nhận một quá khứ đau buồn đó để hướng tới tương lai tươi sáng hơn.

Tóm lại, Hồ Chí Minh vẫn chỉ là một con người bị bánh xe lịch sử chi phối. Việc thần thánh hóa ông là điều không nên làm bởi vì nó làm giảm giá trị của ông. Ngược lại việc bôi nhọ, phỉ báng ông một cách vô căn cứ cũng là điều không nên bởi vì nó làm giảm giá trị của chính những người đưa ra nhận định đó.

Của Xê-da hãy trả về cho Xê-da. Hãy trả lại cho Hồ Chí Minh những điều thật sự ông có. Hãy đánh giá sai lầm của ông dưới một con mắt khách quan và công bằng.

Vì sao học sinh Việt Nam “dốt” sử?

Thực trạng đau lòng

Lịch sử là một môn học nhằm cung cấp cho người học một tập hợp thông tin có hệ thống về những sự việc về con người, gia đình và xã hội đã xảy ra trong quá khứ. Do đó, môn học lịch sử đóng một vai trò rất quan trọng trong giáo dục. Giáo dục Việt Nam cũng không là một ngoại lệ.

Thế nhưng những con số thống kê sơ bộ về điểm thi môn lịch sử của các sĩ tử Việt Nam trong kỳ thi tuyển sinh đại học 2006 lại cho thấy một sự thật đau lòng. Số điểm 0 nhiều vô số kể, số bài thi dưới trung bình chiếm phần lớn.

Theo báo Lao động, kỳ thi lịch sử năm nay bội thực điểm không. Thầy Ngô Đăng Tri – Phó chủ nhiệm khoa Sử, Trường ĐH Khoa học xã hội & nhân văn (ĐHQG Hà Nội), nơi đào tạo những cử nhân khoa học xã hội trong tương lai – đã thử đã thử khảo sát ngẫu nhiêu 2 túi bài thi (mỗi túi trung bình 40 bài). Kết quả là túi thứ nhất có 3 bài 0 điểm và 8 bài 0,5; túi thứ hai có 8 bài từ 1 điểm trở xuống… Ở trường ĐH Sư phạm Hà Nội tình hình cũng không khả quan gì hơn. Cô Nguyễn Thị Bích – giảng viên nhà trường – cho biết: Trung bình một ngày chấm gần 110 bài vòng 1, nhưng số bài đạt điểm 7 mới chỉ có 5 bài, chưa có bài thi đạt điểm 8. Trong khi đó, trong 1 túi gồm 40 bài thi có từ 5 – 7 điểm 0. Điều đó có nghĩa là có khoảng 12,5% đến 17,5% học sinh bị điểm 0 trong môn sử. Điều đáng lưu ý là trường ĐH Sư phạm được coi là một trường đào tạo giáo viên tốt nhất Việt Nam hiện nay.

Ngoài Bắc đã thế, trong Nam tình hình còn tồi tệ hơn. Điểm 0 môn sử nhiều đến nỗi phóng viên Tuổi Trẻ phải “giật tít”: Môn Lịch sử: Kết quả thấp nhất trong các môn thi! Theo TS Trần Thị Mai – tổ trưởng chấm thi môn Sử Trường ĐH KHXH&NV (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho biết điểm O không nhiều nhưng điểm từ 0.75 đến 3 điểm chiếm đa số; ngoài ra điểm trên 8 vẫn chưa xuất hiện! Các trường đại học khác cũng có tình trạng tương tự như thế.

Đó là một thực trạng cực kỳ đáng báo trong trong việc dạy và học lịch sử của giáo viên và học sinh Việt Nam. Báo chí Việt Nam đã liên tục đặt ra những câu hỏi về vấn nạn này trong những ngày vừa qua. Trong khi môn sử tuy là là một môn thi tốt nghiệp bán chính thức, nhưng hầu như được xem là chính thức bởi vì đa số các năm đều có thi môn Sử .Ở Việt Nam, trong kỳ thi tú tài những môn thi tốt nghiệp chính thức là Toán, Lý, Hóa; những môn bán chính thức (thay đổi theo từng năm) là Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh. Những thí sinh được tham dự kỳ thi tuyển sinh đại học lần này đều đã là những người được cấp bằng tú tài, nghĩa là phải được học và thi sử trong các kỳ kiểm tra trong lớp, kiểm tra học kỳ và thậm chí thi tốt nghiệp. Thế thì vì sao học sinh lại có điểm thi môn sử cực kỳ thấp đến như thế? Để trả lời câu hỏi “hóc búa” này ta thử tìm hiểu về nội dung môn lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông và so sánh nó với những bài viết về lịch sử trên Bách khoa toàn tư mở wikipedia.

Học sinh chán học sử vì biết bị “nhồi sọ”?

Việt Nam là một quốc gia do Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo, do đó một trong những mục tiêu “ẩn” của việc dạy và học môn sử ở Việt Nam đó chính là bảo vệ hệ tư tưởng Marx-Lenin và bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu “ẩn” này thể hiện khá rõ trong sách giáo khoa lịch sử lớp 12, đặc biệt là lịch sử Việt Nam trong thời kỳ Đảng lãnh đạo. Bất kỳ ai đọc cuốn sách lịch sử lớp 12 tập II cũng đều thấy rõ rằng Đảng Cộng sản thông qua giáo dục muốn “nhồi sọ” học sinh bằng những bài lịch sử Đảng khô khan, tẻ nhạt và rất phiến diện. Để bạn đọc có thể nhìn thấy rõ bản chất của vấn đề tôi xin được trích một đoạn đề cương ôn tập môn sử (do việc dạy sử có tính chất “nhồi sọ” nên trước mỗi kỳ thi tú tài Bộ Giáo dục và Đào tạo đều có ban hành đề cương ôn tập cho giáo viên và học sinh).

Chương 5: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1975)

- Phong trào Đồng Khởi (1959-1960).

- Âm mưu và thủ đoạn của Mỹ ngụy thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt” như thế nào? Quân và dân ta đã chiến đấu và chiến thắng chống cuộc “chiến tranh đặc biệt” đó như thế nào?

- Âm mưu và thủ đoạn của Mỹ ngụy thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ” như thế nào? Quân và dân ta đã chiến đấu và chiến thắng chống cuộc “chiến tranh cục bộ” đó như thế nào?

- Âm mưu và thủ đoạn của Mỹ ngụy thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa” chiến tranh như thế nào? Quân và dân ta đã chiến đấu và chiến thắng chống cuộc “Việt Nam hóa” chiến tranh đó như thế nào?

- Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975: Chủ trương, kế hoạch của ta, diễn biến, kết quả, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử.

- Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Chỉ với đề cương ôn tập một chương cũng đủ nhận thấy rõ tính chất “nhồi sọ” và phiến diện của chương trình lịch sử lớp 12. Tất cả những trận đánh mà Cộng sản thực hiện đều “thắng lợi vẻ vang”, tiêu diệt rất nhiều tên địch, phá hủy nhiều phương tiện vũ khí trong khi đó số thương vong của Cộng sản không bao giờ được liệt kê. Phần nguyên nhân của cuộc tất cả các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ bao giờ cũng được dùng để ca ngợi sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và ông Hồ Chí Minh. Trong khi đó không có một bài nào mô tả cuộc sống và tình hình thực chất ở miền Nam Việt Nam.

Tôi cho rằng học sinh đang chống lại cách dạy “nhồi sọ” của Đảng trong môn lịch sử bằng một cách khá tiêu cực nhưng dễ hiểu đó là không thèm học môn sử. Tôi có dịp tiếp xúc với những học sinh phổ thông thì được các em cho biết môn sử và môn giáo dục công dân (dùng để tuyên truyền về chủ nghĩa Marx-Lenin) là hai môn mà các em không thèm học, mỗi khi kiểm tra thì quay cóp. Đó là một phản ứng tất yếu của người học khi bị một chính sách giáo dục “nhồi sọ”. Tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn trong những năm vừa qua và sắp tới có thể là do sự thay đổi trong nhận thức về môn Sử của học sinh dưới sự ảnh hưởng tích cực của Internet. Một học sinh phổ thông rất dễ dàng tiếp thu những luồng tư tưởng mới mẻ, phong phú và bổ ích thông qua mạng Internet. Dĩ nhiên trong đó chắc chắn sẽ có những bài học về lịch sử Việt Nam được viết một cách trung thực, khách quan và trung lập. Điển hình là những bài viết về lịch sử trên bách khoa toàn thư mở Tiếng Việt (vi.wikipedia.org). Xin được trích đoạn phân tích về bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam trên bách khoa mở giai đoạn từ 1954-1975 để bạn đọc tham khảo, so sánh và đánh giá với chương trình lịch sử ở các trường phổ thông và đại học của Việt Nam hiện nay. Bạn đọc có thể tham khảo bài viết tại địa chỉ sau về Chiến tranh Việt Nam.

Bản chất của Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và đa diện tuỳ theo lập trường của các bên và hiện nay đang còn được tranh luận nhưng có thể rút ra một số đặc điểm sau:

Lnh Mỹ đốt căn cứ của Việt Cộng trong rừng

Lính Mỹ đốt căn cứ của Việt Cộng trong rừng

* Đối với các nhà lãnh đạo của hai miền Việt Nam và các đồng minh của họ thì đây là cuộc chiến tranh giữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa chống cộng sản, rõ ràng cuộc chiến này mang tính ý thức hệ rất sâu sắc. Để ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản (Xem Thuyết Domino), chính phủ Mỹ đã đứng ra cáng đáng chi phí của cả cuộc chiến, quân đội Mỹ đã trực tiếp chiến đấu trên chiến trường thay cho quân đội Việt Nam Cộng hoà. Vì hệ tư tưởng nên Liên Xô và Trung Quốc đã cùng giúp đỡ tối đa cho miền Bắc Việt Nam trong khi họ vẫn xung đột với nhau.
….

* Trên cục diện quốc tế đây là cuộc “chiến tranh nóng” trong lòng Chiến tranh Lạnh đang diễn ra quyết liệt lúc đó trên thế giới. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến gây nhiều tàn phá nhất trong lịch sử Việt Nam và gây chia rẽ rất sâu sắc trong lòng dân tộc Việt Nam cũng như xáo trộn, chia rẽ trong lòng nước Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới.

Một em học sinh khi lên mạng và dùng một chương trình tìm kiếm thông dụng như Google để tìm hiểu về lịch sử Việt Nam sẽ có kết quả đầu tiên là bài Lịch sử Việt Nam trên Wiki. Sau khi đọc xong bài sử được viết một cách khách quan và trung lập như thế chắc chắn em học sinh sẽ đặt ra trong đầu rất nhiều câu hỏi về môn học lịch sử: sách giáo khoa viết có đúng không, thầy cô dạy có đúng không? Và càng tìm hiểu thì em học sinh đó sẽ nhận ra rằng sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã viết sai sự thật về cuộc chiến tranh Việt Nam. Phản ứng tất yếu của em học sinh đó sẽ là chán nản và không thèm học lịch sử Việt Nam bởi vì biết rằng mình đang bị “nhồi sọ”. Hậu quả trước mắt của việc tuyên truyền và nhồi sọ lịch sử Đảng như thế nào thì kết quả tuyển sinh đại học môn Sử đã cho thấy rõ. Tuy nhiên một hậu quả lâu dài hơn đó là sự thiếu hiểu biết học sinh đối với lịch sử của dân tộc Việt Nam từ khi dựng nước đến nay sẽ rất to lớn và không gì bù đắp nổi.